Tờ khai, quý vị cần cung cấp tất cả thông tin về việc nhập cảnh và lưu trú tại Đức.
Ảnh hộ chiếu sinh trắc học tại đây
Quý vị vui lòng nộp bản gốc và một bản sao không công chứng những giấy tờ nêu dưới đây. Quý vị vui lòng soạn những bản sao giấy tờ thành một bộ hồ sơ đầy đủ. Quý vị sẽ nhận lại các bản gốc sau khi giải quyết xong hồ sơ.
Tất cả những giấy tờ không bằng tiếng Đức hoặc tiếng Anh phải có bản dịch sang tiếng Đức kèm theo.
Quý vị vui lòng sắp xếp các bộ hồ sơ theo thứ tự sau đây:
Giấy khai sinh Việt Nam phải được hợp pháp hóa lãnh sự trước khi nộp hồ sơ
Giấy xác nhận thông tin cư trú mới nhất của trẻ em, do cơ quan công an Việt Nam nơi trẻ em cư trú cấp. Giấy xác nhận thông tin cư trú phải được cấp trước ngày nộp hồ sơ thị thực không quá 6 tháng. Giấy xác nhận cung cấp thông tin về những người sống cùng hộ gia đình với trẻ em.
+ Giấy chứng nhận kết hôn của cha mẹ
- Bản chính giấy chứng nhận kết hôn của cha mẹ đã được hợp pháp hóa lãnh sự
- Bản chính quyết định ly hôn (bản án ly hôn) của cha mẹ đã được hợp pháp hóa lãnh sự
Quý vị vui lòng nộp các giấy tờ sau của bên cha, mẹ sinh sống tại Đức mà trẻ em muốn sang đoàn tụ cùng. Nếu cả cha và mẹ đều sinh sống tại Đức thì nộp giấy tờ của cả hai người:
- Bản sao hộ chiếu
- Bản sao giấy phép cư trú Đức
- Giấy xác nhận đăng ký cư trú Đức mới nhất (cấp trước ngày nộp hồ sơ không quá 6 tháng) của cha, mẹ đang sinh sống tại Đức.
+ Giấy chứng nhận kết hôn của cha mẹ:
Bản chính giấy chứng nhận kết hôn của cha mẹ đã được hợp pháp hóa lãnh sự
Bản chính quyết định ly hôn (bản án ly hôn) của cha mẹ đã được hợp pháp hóa lãnh sự
Nếu trẻ em chỉ đoàn tụ gia đình với một bên cha, mẹ thì phải chứng minh rằng bên cha, mẹ đó là người duy nhất có quyền nuôi dưỡng. Nếu bên cha, mẹ tại Đức không phải là người duy nhất có quyền nuôi dưỡng, thì trẻ em chỉ có thể đoàn tụ gia đình nếu bên cha, mẹ còn lại tuyên bố đồng ý với việc đoàn tụ gia đình của trẻ em (xem mục „Tuyên bố đồng ý“).
Về nguyên tắc, pháp luật Việt Nam chỉ ghi nhận quyền nuôi dưỡng chung của cha mẹ. Điều này cũng được áp dụng trong trường hợp ly hôn, vì quyền nuôi dưỡng sau khi ly hôn không được xem xét giải quyết mà chỉ có các thỏa thuận về việc trông nom và nuôi dưỡng con. Thông thường, việc “chuyển giao quyền nuôi dưỡng“ sau đó cũng không thay đổi được điều này.
Nếu bên cha, mẹ tại Đức là người duy nhất có quyền nuôi dưỡng, thì để chứng minh điều đó cần phải nộp giấy chứng tử của bên cha, mẹ còn lại hoặc quyết định của tòa án tuyên bố bên cha, mẹ còn lại mất tích. Những giấy tờ này phải được hợp pháp hóa lãnh sự trước hợp pháp hóa lãnh sự
Đối với trẻ em là con ngoài giá thú mà trong giấy khai sinh không có thông tin của người cha thì người mẹ không cần nộp thêm giấy tờ để chứng minh là người duy nhất có quyền nuôi dưỡng.
Trong trường hợp cha mẹ sống ly thân và người con chỉ sang đoàn tụ với một bên cha, mẹ thì bên cha, mẹ cũng có quyền nuôi dưỡng còn lại phải có tuyên bố đồng ý.
Về nguyên tắc người chưa thành niên từ 16 tuổi trở lên phải chứng minh có trình độ tiếng Đức tốt (bậc C1) bằng cách nộp một chứng chỉ tiếng Đức được công nhận.
Các chứng chỉ được công nhận hiện nay gồm:
- Chứng chỉ tiếng Đức của Viện Goethe
- Chứng chỉ tiếng Đức của telc GmbH
- Chứng chỉ tiếng Đức của Áo ÖSD
- “TestDaF“ của Viện TestDaF (trực thuộc Đại học từ xa Hagen và Đại học tổng hợp Ruhr Bochum, trình độ để tham dự kỳ thi là từ B2 trở lên)
- Chứng chỉ tiếng Đức của Trung tâm khảo thí ECL
Nếu con và cả cha và mẹ hoặc một bên cha, mẹ là người duy nhất có quyền nuôi dưỡng cùng nhau chuyển sang Đức sinh sống thì không cần chứng minh trình độ tiếng Đức.
Điều này cũng được áp dụng khi con và chỉ một bên cha, mẹ có quyền nuôi dưỡng cùng nhau chuyển sang Đức sinh sống và bên cha, mẹ còn lại đã tuyên bố đồng ý.
Nếu bên cha, mẹ sinh sống tại Đức hoặc vợ/chồng của người này có một trong các loại giấy phép cư trú dưới đây, thì con cũng không cần chứng minh trình độ tiếng Đức:
- Giấy phép định cư (Niederlassungserlaubnis) theo § 18c khoản 3 Luật Cư trú
- Thẻ Xanh EU (§ 18g khoản 3 Luật Cư trú)
- Thẻ luân chuyển trong nội bộ công ty (ICT-Karte/Mobiler-ITC-Karte)
- § 18a, § 18b khoản 1, § 18d hoặc § 18f Luật Cư trú
- § 19c khoản 1 Luật Cư trú, theo diện cán bộ lãnh đạo, chuyên gia doanh nghiệp, nhà khoa học hoặc thành viên nhóm nghiên cứu
- § 19c khoản 2 hoặc khoản 4 Luật Cư trú
- § 21 Luật Cư trú
Người đại diện cho trẻ em trong quá trình xin cấp thị thực phải được cha mẹ của trẻ em đó ủy quyền. Nếu trẻ em chỉ sang đoàn tụ với một bên cha, mẹ thì bên cha, mẹ đó phải ký giấy ủy quyền. Phải nộp bản chính giấy ủy quyền.
Nếu một bên cha, mẹ đại diện cho trẻ em trong quá trình xin thị thực, thì không cần phải có giấy ủy quyền của bên cha, mẹ còn lại.
Bạn cần tư vấn về dịch vụ này?
Liên hệ ngay để được tư vấn miễn phí và nhận báo giá trong ngày
CÔNG TY TNHH DỊCH THUẬT NGỌC CHÂU